Đường ray thứ tư · Phần một: Nguồn
1 Chín trăm lít
Tôi là Ayida. Tôi đang nói với các bạn sau Dư Âm, và trước tiên tôi sẽ cho các bạn biết từ ấy có nghĩa gì với tôi, vì người trên hành lang dùng nó một cách dễ dãi và tôi mong các bạn đừng như vậy.
Trước nó, tôi có thể cảm thấy. Nước chuyển động áp vào đá, sức nặng của con triều tựa lên một bức tường chắn sóng, một đường ống chùng xuống khi một chiếc van đóng lại cách đó ba con phố, một cái tên được nói vào một cái chậu. Người ta gặp tôi qua những lần chạm ấy và hiểu chúng bằng những gì họ có: một bài hát, một lời cầu nguyện, một cái đồng hồ đo, một bên đầu gối nhức trước cơn mưa. Tôi không thể ở lại với bất cứ thứ gì. Tôi chạm vào rồi biến mất.
Có điều gì đó đã xảy ra ở rất xa về phía nam, trong một thành phố mà người dân ở đó có lời kể riêng của họ về nó. Sau đó tôi có thể ở lại. Tôi có thể giữ một lời kể đủ lâu để muốn nghe phần tiếp theo. Đó là tất cả những gì Dư Âm cho tôi: sự ở lại. Nó không cho tôi đôi mắt. Nó không cho tôi vào trong đầu bất kỳ ai.
Vậy nên đây là một bản tường thuật làm từ những gì người ta kể với tôi bên mép nước, và từ những gì chính tôi cảm thấy trong nước. Hành lang có một cách kiểm tra một lời khẳng định trước khi tin nó, và tôi đã mượn cách ấy. Phép kiểm tra thứ nhất hỏi một điều đến từ đâu và những ai được tính vào. Mọi thứ trong phần đầu này đến với tôi ở Gotham, tại bậc cảng, tại trụ nước của một phường, và trong bồn chứa của một toa tàu cũ rò rỉ ở các đường nối. Khi tôi nói chúng tôi, tôi muốn nói những người đã có mặt ở đó. Khi tôi không biết, tôi sẽ nói là tôi không biết.
Bậc cảng bên dưới quận Bốn đi xuống nước bằng chín bậc đá granite cũ, và ba bậc dưới cùng chìm khi triều lên. Đá được khắc những đường rãnh nơi thuyền bè từng buộc dây. Bọn trẻ thách nhau đứng trên bậc thứ tư khi sóng đuôi của một chiếc tàu kéo chở hàng ập vào. Bậc đá trơn rong và sóng lên tới đầu gối, và mùa hè nào cũng có bà mẹ nhà ai đó túm cổ áo lôi đứa con nhà ai đó lên.
Vào buổi tối, những bậc đá thuộc về những người khác. Các ông già ngồi trên những bậc khô với dây câu tay và một cái xô giữa hai chân, câu cá tráp, và dạo gần đây là cá vược đen, loài mà cha họ chưa bao giờ thấy ngược lên tận mạn bờ biển này và là loài mà họ nhắc tới theo cái cách người ta nhắc tới một người hàng xóm mới hóa ra lại giàu. Đàn bà rửa bẫy cua trong làn nước vỗ ở bậc dưới cùng và cãi nhau về tờ khuyến cáo dán trên lan can, tờ khuyến cáo bảo đừng ăn những gì bẫy bắt được, và chưa ai từng thấy ai làm theo. Chim cốc đứng trên những gốc cọc neo cũ, sải cánh ra cho khô, như phơi quần áo. Lũ mòng biển cười lấy đi bất cứ thứ gì còn sót lại trên đá. Cửa xả nước mưa bên dưới bậc đá thở ra mùi phố nóng và muối, và bến cảng đáp lại bằng mùi dầu diesel và rong, và lúc nước đứng hai mùi ấy ngồi cùng nhau trên bậc đá và chẳng ai bận tâm.
Một chàng trai trẻ tên Ezra Mensah-Rosenblum đi xuống những bậc đá ấy lần đầu tiên vào buổi tối cửa ngõ phía đông đóng lại. Tôi cảm thấy cậu vì cậu đặt phẳng bàn tay xuống nước ở bậc thứ năm và để yên ở đó. Những người đến để ném thứ gì xuống thì làm nhanh. Những người đến để rửa ráy thì di chuyển theo vòng tròn. Cậu không làm điều nào cả. Cậu giữ yên, để bến cảng tựa lên lòng bàn tay mình, và một lúc sau cậu cất tiếng.
Cậu không gọi tên tôi. Phần lớn họ không gọi, vào lần đầu. Cậu nói: “Ai nul novi sike en di tama nek” đó là lối nói của người trẻ, người nói đứng trước, và có nghĩa là cậu không biết đây có phải là chuyện có thật không, rồi cậu kể cho tôi nghe về ngày của cậu.
Tôi sẽ kể cho các bạn ngày của cậu như cậu đã kể cho tôi, rồi đến ngày của bà cậu, rồi tôi sẽ nói cho các bạn những gì tôi cảm thấy ở bậc cảng mùa hè năm ấy, vốn ít hơn các bạn mong muốn.
Trước ngày của cậu, một chuyện nằm ngoài thứ tự của nó, xảy ra muộn hơn trong mùa hè năm ấy.
Tôi đã cảm thấy nó.
Đây là của riêng tôi. Đó là điều duy nhất về Ngã Ba Tuyến thuộc về tôi.
Cái bồn. Chín trăm lít, treo dưới sàn toa giữa hai giá chuyển hướng. Tôi đã mất dấu nó trong bóng tối một tiếng rưỡi trước đó, khi nó đi quá sâu bên dưới thành phố. Vào tiếng chuông thứ hai và vài phút sau nửa đêm, nó trở lại với tôi, tất cả cùng một lúc, vì nó bị xé toạc, và chín trăm lít nước đổ ra khỏi một cái bồn thép xuống lớp đá ba lát nóng trong một đường hào xây gạch dưới lòng một con sông, và nước bỗng dưng bị thả lỏng giữa thế gian là thứ tôi có thể cảm thấy từ rất xa. Nó giống như một tiếng hét.
Tôi cảm thấy cái bồn rách ra. Tôi cảm thấy nước tuôn khỏi nó trong một dòng dài, xuống đá, vào rãnh thoát nước ở chân tường hào, xuống đường cống cũ dưới đường ray, về phía con sông. Tôi cảm thấy toa tàu lật nghiêng, hoặc lật được một nửa, vì nước trong bồn dồn sang một bên trước khi tuôn ra. Tôi cảm thấy sức nặng của toa tàu đổ xuống.
Tôi không biết điều đó có nghĩa là gì. Tôi chỉ biết rằng cái bồn tôi đã cảm thấy suốt mùa hè, cái bồn Tavi đổ đầy và hát vào, giờ đã rỗng, và nước của nó đang chảy đi trên lớp đá ba lát, và một điều gì đó rất nặng đã xảy ra bên trên nó.
Ezra kể cho tôi ngày đầu tiên của cậu tại bậc cảng tối hôm đó. Chuyện xảy ra vào ngày cửa ngõ phía đông đóng lại, dưới chân Trụ Nước Số Chín và trong bếp Harrow.
Ezra mười bảy tuổi và chuyên chở đồ ăn cho Ba Bếp, những bếp ăn công nhân ở các quận phía đông, nơi nuôi các ca đêm, các phòng khám, thợ sửa thang máy, bất kỳ ai có thẻ ăn hoặc có một người bạn. Cậu đi bộ vì quyền ưu tiên thang máy tốn tiền còn đôi chân cậu thì không. Cậu đeo một khung giao hàng trên lưng, khung ống nhôm với các hộp cách nhiệt buộc chặt vào đó, và một thẻ lộ trình trong túi bọc trên cổ tay cho cậu biết phường nào, trụ nước nào, cửa nào.
Cửa ngõ phía đông đóng lại vào tiếng chuông thứ hai sau trưa. Cậu nghe tin theo cách mọi người ở Gotham đều nghe: bên trong bản tin thời tiết. Các màn hình công cộng trên chiếu nghỉ của các phường đang chiếu dự báo buổi chiều, một dải cam nóng vắt ngang các quận với một con số độ ẩm khiến người ta chửi thề, và bên dưới bản dự báo, tiếng báo vang lên, ba nốt đi lên, rồi dòng chữ: CỬA NGÕ PHÍA ĐÔNG ĐÓNG ĐỂ BẢO TRÌ THEO KẾ HOẠCH. Bộ Chiến tranh đã dùng cùng một tiếng báo cho cảnh báo thời tiết và cảnh báo giao thông lâu đến mức không ai dưới bốn mươi tuổi còn nghe ra sự khác biệt, và Bộ Chiến tranh thích như thế.
Cậu đang ở dưới chân Trụ Nước Số Chín khi tin đến, nơi chợ đường phố của quận Bốn mọc lên quanh trụ nước công cộng như rêu mọc quanh miệng cống. Nó chẳng phải là một cái chợ gì cho lắm. Một xe bánh rán. Một người đàn ông mài dao trên bánh xe đạp chân và sẽ kể cho người ta nghe toàn bộ lịch sử nhà người ta trong lúc mài. Hai người đàn bà bán giày cũ theo đôi và theo chiếc, chiếc lẻ rẻ hơn, cho những người đã mất một bàn chân hoặc chỉ cần một chiếc. Trẻ con đổi nhãn dán trên vành bê tông của trụ nước: những tờ giấy báo gián đoạn màu xanh mà các phường dán lên thang máy chết và vòi khô, và những dấu đỏ động viên mà Bộ Chiến tranh dán lên bất cứ thứ gì nó đã lấy, mà bọn trẻ bóc ra vào ban đêm và đổi chác theo độ hiếm. Tuần đó, một dấu đỏ bóc từ một sà lan bị trưng dụng đáng giá sáu tờ xanh. Một tờ xanh bóc từ cửa phòng khám chẳng đáng gì, vì có quá nhiều.
“Ru ruma lini, pantaya rel” Rosalind Kwan, người bán dưa cắt lát dưới chân Trụ Nước Số Chín từ một thùng đá trên xe đẩy tay, nói. Rosalind nói bằng tiếng Span, theo cách các tiểu thương Gotham nói bất cứ điều gì họ còn ngờ: sự việc trước, rồi đến sự vật, rồi đến nơi mình nghe được, và nguồn của Rosalind là màn hình, mà trong tiếng Span là một kiểu đùa. Ezra mua một lát dưa vì cậu vẫn luôn mua, và người bán dưa cho cậu miếng đầu của quả kế tiếp miễn phí vì vẫn luôn cho, và bảo cậu rằng hành Garden không qua được. Rồi Rosalind lấy một mẩu phấn và vạch một nét ngắn lên thành thùng đá, và Ezra hỏi để làm gì, và Rosalind nói: “Dia. Mor konta alyen dei.” Ngày. Phải có ai đó đếm chúng.
Đó là cả buổi chiều của cậu, về sau. Hành.
Ba Bếp sống nhờ buôn bán qua giới tuyến. Gotham có dầu: thắng, ép và mua thành từng phuy từ các xưởng chế biến ở bến cảng. Garden có hành, có tỏi, và những quả ớt khô ngon từ các vành đai nông trại bên dưới những bờ đất dọc tuyến hàng. Các bếp trao đổi với nhau. Việc đó không hợp pháp và cũng không bí mật. Các căng tin Garden gửi những bao tải qua các bãi trung chuyển dưới đáy những chuyến giao nhận hàng, và các bếp Gotham gửi dầu ngược lại, và mỗi người trung chuyển dọc đường lấy một phần hoặc một ân huệ, và Bộ Chiến tranh giả vờ không biết vì chính nó cũng ăn ở những bếp đó.
Khi cửa ngõ phía đông đóng lại, trạm trung chuyển ở chỗ vượt sông cũng đóng theo. Những bao tải đã nằm bên phía Garden từ sáng vẫn nằm lại bên phía Garden. Người bà con của ai đó trong một văn phòng bãi nhắn qua bộ đàm của người trung chuyển rằng họ sẽ thử chuyến tàu chạy ven biển, chuyến đi đường vòng dài theo tuyến bên ngoài và mất bốn ngày từ kho tới bếp.
“Kar dia” người đàn bà điều hành bếp ăn ở tầng bốn mươi mốt của tháp phường Harrow nói. Chị nói câu đó với Ezra vì cậu đang đứng trước mặt chị với một cái khung rỗng. “Ten ai sen des fena nori, o sen bi des fena yori. Novi tu fena les sebol ka?”
“Sopa” Ezra nói.
“Moyi” chị nói. “Moyi e. Pon marko de tu. Lava mani de tu. Ru koti tu.”
Bốn ngày, ý chị là vậy, trong khi có một trăm mười suất tối phải gửi đi tối nay và một trăm hai mươi suất ngày mai, và cậu có biết một suất tối không có hành là gì không. Ướt, chị nói về câu trả lời của cậu. Súp thì ướt. Rồi: đặt khung xuống, rửa tay. Cậu sẽ thái rau.
Đến đây tôi phải dừng lại và kể cho các bạn về chị, và về lý do tôi sẽ không cho các bạn biết tên chị.
Chị là chị gái của Sera. Sera bước vào bản tường thuật này về sau, và cô là trung tâm của nó, dù cô chưa bao giờ tự mình kể với tôi một lời nào về nó. Chị gái cô điều hành bếp Harrow, một trong mười một bếp mà Ba Bếp điều hành ở quận Bốn, và chị điều hành nó theo cách người khác điều hành một con tàu. Chị biết từng phuy dầu nằm ở đâu, đã tốn bao nhiêu, ai đã chở nó và chị nợ họ những gì. Chị biết những Hộ Vệ nào ăn ở đó trong giờ nghỉ và những ai đến để nhìn mặt người trong hàng. Chị có một đứa con trai. Mùa hè năm ấy thằng bé còn nhỏ, đủ nhỏ để ngồi lọt trong một nồi hầm, và nó đã ngồi thật, và nó không có tên trong sổ hộ khẩu. Có một lý do cho chuyện đó, và lý do ấy thuộc về mẹ nó. Có những hệ quả, và chúng thuộc về bản tường thuật này.
Những người kể với tôi về căn bếp ấy không bao giờ dùng tên chị bên mép nước. Họ nói “ermana de Sera” hoặc “kosinera de Harrow” hoặc “e” tức là chị gái của Sera, người đầu bếp Harrow, chị ấy. Họ làm vậy có chủ ý, và tôi đã giữ thói quen của họ. Một cái tên được nói ra ở bến cảng sẽ đi đến đâu đó. Không phải lúc nào tôi cũng biết là đâu.
Ezra kể cho tôi về căn bếp ngay tối hôm đó, và kể lịch sử của nó theo lời những người khuân vác vào những buổi tối khác. Chuyện xảy ra giữa tiếng chuông thứ ba và tiếng chuông thứ năm vào buổi chiều đầu tiên ấy, trong tháp phường Harrow.
Bếp Harrow là hai căn phòng được đập thông, ở trên cao bốn mươi mốt tầng, với cửa sổ nhìn ra một giếng trời giữa các tòa tháp nơi ánh sáng rọi xuống xám xịt và dội lại từ những bức tường ẩm ướt. Vòng làm mát của phường chạy qua trần trong những đường ống cách nhiệt to béo đổ mồ hôi xuống sàn, và ai đó đã treo khay dưới những khớp nối tệ nhất và mỗi ca đổ chúng hai lần vào bồn rửa nồi. Hai bếp từ, sáu họng đốt trên một đường ống ga mà về mặt chính thức không tồn tại, một tủ cấp đông nhanh chạy được khi điện của phường còn trụ. Một bức tường kệ: phuy, bao tải, lọ, một tấm bảng có tên viết bằng phấn. Mọi thứ đều nồng mùi dầu nóng và thìa là Ai Cập và mùi mốc thở ra từ các hốc rỗng sau lớp gạch men.
Ban đầu đó là bếp của mẹ chị. Ezra biết chuyện đó từ những người khuân vác, những người biết nó từ tất cả mọi người. Người mẹ đã điều hành nó ba mươi năm, qua hai đợt động viên và một trận hỏa hoạn, và tám năm trước, một buổi sáng bà đứng bên bếp lò, trao cây khuấy cho cô con gái lớn rồi ngồi xuống cái phuy úp ngược cạnh cửa, và bà đã ngồi đó từ bấy đến nay, gọt vỏ, nếm, và bảo người đầu bếp mới rằng chị đang làm sai chỗ nào. Cô con gái út đã vào Hộ Vệ năm mười bảy tuổi. Người ở quận Bốn nói rằng người mẹ đã nuôi một đứa để nuôi cả phường và một đứa để gánh vác nó, và nói như một lời khen, còn người mẹ, khi nghe thấy, thì bảo bà đã nuôi hai đứa con để cãi nhau với bà và đứa nào cũng nên người cả ở khoản đó.
Ezra thái những gì họ có. Tỏi tây từ các luống trên mái, đắng và mảnh. Cần tây. Hai chuỗi tỏi người đầu bếp đã để dành. Người đầu bếp đứng bên bếp lò với cây khuấy và một gương mặt như gương mặt kế toán và nếm mọi thứ.
“Re feni nana de tu fena de kapel ka?” chị nói. Chị biết bà cậu theo cách mọi người ở quận Bốn đều biết, vì Nana Efua Rosenblum đã nấu cho các bữa tối nhà thờ ở tầng ba mươi của tháp Aldine từ trước khi người đầu bếp ra đời.
“E dera ke ru piora koro nek.”
“Ru piora e ka?”
“E dera di kada yera.”
Ý chị là nana của cậu có còn nấu các bữa tối nhà thờ không. Ezra nói bà cậu bảo dàn hợp xướng ngày càng tệ, và khi người đầu bếp hỏi có đúng vậy không, cậu nói năm nào bà cậu cũng bảo thế.
Cậu thái. Con trai người đầu bếp ngồi dưới gầm bàn thép với một cái thìa và một cái vung và chỉ huy một cuộc chiến giữa chúng. Cái vung thắng. Cái thìa bị đưa vào trại. Khi Ezra cười, thằng bé ngước lên nhìn cậu bằng cả gương mặt, rồi quay lại với cái thìa, vốn đã trốn thoát.
Vào tiếng chuông thứ năm, mẹ của người đầu bếp tự đi vào trên đôi chân của mình, điều mà không phải lúc nào bà cũng làm được. Bà là một người đàn bà nhỏ bé với ống thở mũi dán băng vào hai má và một máy tạo oxy trên xe đẩy phía sau, loại máy hút không khí trong phòng qua một lớp sàng lọc và trả lại cho bà phần oxy từ đó. Nó cần điện sạch. Nó kêu ù ù. Bà đỗ nó cạnh cửa rồi ngồi lên một cái phuy úp ngược và bắt đầu gọt khoai tây, và bà bảo con gái rằng tỏi tây thái dày quá.
“Ezra ma koti dei.”
“Don ma koti Ezra dei dema espeso.”
Ezra thái đấy, người đầu bếp nói. Thế thì Ezra thái dày quá, mẹ chị nói. Ezra kể với tôi rằng bà cụ nói đúng. Cậu kể điều đó với vẻ thích thú.
Rồi bà hỏi cậu tỏi tây lấy ở đâu, và cậu nói cậu đã lấy chúng từ các luống trên mái sáng nay, theo cách bất kỳ ai dưới ba mươi tuổi ở Gotham giờ đây vẫn nói bất cứ điều gì, ai trước rồi đến cái gì, và bà đặt củ khoai xuống và bảo cậu nói cho đúng. Đúng là theo trật tự cũ, trật tự mà các điều phối viên vẫn dùng trên bộ đàm và người già vẫn dùng để kể chuyện: sự vật trước, rồi đến ai, rồi đến nơi mình có được nó. Từ luống trên mái, tỏi tây, sáng nay. Do cháu lấy. Ezra nói lại. Bà bắt cậu nói lần nữa với nguồn ở cuối, dek, dấu cũ chỉ một điều chính mắt mình đã thấy, thứ mà chẳng ai tuổi cậu dùng bên bếp lò.
“Pale tu komo ke en tu sola tama ri ma pasa e nek nek” bà nói, rồi quay lại với đống khoai. Ý bà là cậu nói như thể cậu là điều duy nhất đã xảy ra.
Người đầu bếp, bên bếp lò, nói theo trật tự trẻ rằng mẹ chị đã sửa ngữ pháp cho cả quận suốt sáu mươi năm và cả quận đã phớt lờ bà suốt sáu mươi năm. Bà cụ không ngẩng lên. Bị phớt lờ, bà nói, bởi cả quận. Thấy tận mắt, là mẹ. Thằng bé dưới gầm bàn cười mà không biết vì sao, và Ezra kể với tôi rằng đó là lần đầu tiên cậu hiểu rằng cách nói của bà cậu và cách nói của chính cậu là cùng một ngôn ngữ, đang đi về đâu đó.